Home Nguyên tắc | Lập thành | Các sao | An sao | Luận số

CỰ MÔN
LIÊM TRINH
PHÁ QUÂN
THÁI ÂM
THÁI DƯƠNG
THAM LANG
THẤT SÁT
THIÊN CƠ
THIÊN ĐỒNG
THIÊN LƯƠNG
THIÊN PHỦ
THIÊN TƯỚNG
TỬ VI
VŨ KHÚC
Ân Quang
Bạch Hổ
Bác Sỹ
Bát Tọa
Bệnh
Bệnh Phú
Cô Thần
Dưỡng
Đà La
Đại Hao
Đào Hoa
Đẩu Quân
Đế Vượng
Địa Không
Địa Kiếp
Địa Vơng
Điếu Khách
Đường Phù
Giải Thần
Hoa Cái
Hóa Khoa
Hóa Kỵ
Hóa Lộc
Hóa Quyền
Hỏa tinh
Hồng Loan
Hữu Bật
Hỷ Thần
Kiếp Sát
Ḱnh Dương
Lâm Quan
Linh Tinh
Lộc Tồn
Long Tŕ
Lực Sỹ
Lưu Hà
Mộ
Mộc Dục
Nguyệt Đức
Phá Tóai
Phi Liêm
Phong Cáo
Phục Binh
Phúc Đức
Phượng Các
Quan Phù
Quả Tú
Quốc Ấn
Suy
Tam Thai
Tang Môn
Tả Phù
Tấu Thư
Thai
Thai Phụ
Thanh Long
Thiên Đức
Thiên Giải
Thiên H́nh
Thiên Hư
Thiên Khốc
Thiên Khôi
Thiên Không
Thiên La
Thiên Mă
Thiên Quan
Thiên Riêu
Thiên Sứ
Thiên Tài
Thiên Thọ
Thiên Trù
Thiên Việt
Thiếu Âm
Thiếu Dương
Tràng Sinh
Triệt
Trực phù
Tử
Tuần
Tuế Phá
Tướng Quân
Văn Xương
Văn Khúc

 


Trước hết, lá số có 12 cung chia 12 ô để an các sao gọi là Địa Bàn, C̣n ṿng bên trong gọi là Thiên Bàn để ghi năm tháng ngày giờ, cục và tiểu hạn


Tỵ Hỏa - Ngọ Hỏa + Mùi Thổ - Thân Kim +
Th́n Thổ+   Dậu Kim -
Mẹo Mộc- Tuất Thổ +
Dần Mộc + Sửu Thổ - Tư Thủy + Hợi Thủy -

 

- Biết rơ mỗi cung thuộc hành nào th́ khi đoán số ta mới biết mệnh, sao có cùng hành ấy sinh khắc hay không th́ mới xác thực
- Ví dụ: Sao Thiên cơ thuộc Mộc mà đóng ở cung Thân là cung Kim vậy là cung khắc, làm giảm lực của sao rất nhiều. Hoặc giả người Mệnh Mộc mà an trúng cung Hỏa cũng b́ khắc.

1. Định cung Mạng, Thân và các cung khác
- Từ cung Dần kể là tháng Giêng, đếm nhuận từ cung đến tháng sinh rồi từ đó kể là Tư, đếm ngược từng cung đến giờ sinh: An Mạng.
- Từ cung Dần kể là tháng Giêng, đếm nhuận từ cung đến tháng sinh rồi từ đó kể là Tư, đếm thuận từng cung đến giờ sinh: An Thân
- Cung mệnh đă an rồi, lần lượt viết theo chiều thuận từng cung: Mạng, Phụ, Phúc, Điền, Quan, Nô, Thiên, Tật, Tài, Tử, Phối, Bào (12 cung).


2. Định Cục


Cung Mệnh Tuổi Giáp, Kỷ Tuổi Ất, Canh Tuổi Bính, Tân Tuổi Đinh, Nhâm Tuổi Mậu Quư
Tư, Sửu Thủy 2 Cục Hỏa 6 Cục Thổ 5 Cục Mộc 3 Cục Kim 4 Cục
Dần,Măo,
Tuất, Hợi
Hỏa 6 Cục Thổ 5 Cục Mộc 3 Cục Kim 4 Cục Thủy 2 Cục
Th́n, Tỵ Mộc 3 Cục Kim 4 Cục Thủy 2 Cục Hỏa 6 Cục Thổ 5 Cục
Ngọ, Mùi Thổ 5 Cục Mộc 3 Cục Kim 4 Cục Thủy 2 Cục Hỏa 6 Cục
Thân, Dậu Kim 4 Cục Thủy 2 Cục Hỏa 6 Cục Thổ 5 Cục Mộc 3 Cục


   
Cục là ǵ: Ta chỉ có thể h́nh dung tạm thời Cục như một yếu tố căn bản, một thành phần bất khả phân của con người, có tính cách quyết định vận mệnh con người một các rất tổng quát. Cũng v́ tính cách quá ư tổng quát đó, nên Cục không nói lên được đặc điểm ǵ xác định về con người.
    Cục được đánh giá qua sự tương sinh hay tương khắc với Bản Mệnh để t́m trong tương sinh hay tương khắc đó một ư nghĩa tổng quát nào đó về con người.
    Ví dụ: Kim Mệnh đi với Thủy Cục th́ tương sanh, từ đó, tiên niệm rằng đời người tương đối suông sẻ, ít gặp nghịch cảnh, tương đối sung túc. (?) Ngược lại, Kim Mệnh đi với Mộc Cục tất tương khắc, do đó sẽ gặp nhiều trắc trở trên bước đường đời (?). Nếu Kim Mệnh đi với Kim Cục th́ tị ḥa, không tốt, không xấu, b́nh thường, tiên niệm rằng con người tạm thích nghi được với mọi hoàn cảnh của cuộc đời, sự thăng hay sự trầm cũng vừa phải, nổi bật th́ không nổi bật, nhưng lu mờ th́ cũng không mấy lu mờ (?).
    V́ được xét trong tương quan với Bản Mệnh qua sự sinh khắc của hai thành, nên cần biết qua về liên hệ giữa Mệnh và Cục. Trong bối cảnh nà, Bản Mệnh bao giờ cũng được xem là quan trọng hơn Cục. Do đó, Mệnh thịnh dĩ nhiên tốt hơn Cục thịnh.
    Bản Mệnh chỉ thịnh vượng trong trường hợp hành của Mệnh được hành của Cục tương sinh. Ví dụ: Mệnh Thủy, Cục Kim. Cục Kim vốn sanh Mệnh Thủy. Cục phù cho mệnh th́ mệnh tốt. Ngược lại nếu mệnh sanh cục th́ mệnh hao. Thành thử Cục sanh Mệnh đẹp hơn Mệnh sanh Cục, dù cả hai hành tương sinh.
    Trong trường hợp Mệnh Cục tương khắc, sự tốt đẹp bị hóa giải đi nhiều và kém hơn trường hợp Mệnh sinh Cục. Sự tương quan giữa Mệnh và Cục nói lên 1 hàm số của Phúc đức. Nếu Phúc tốt mà Mệnh Cục tương khắc th́ cái tốt bị chiết giảm. Sự sinh khắc giữa Mệnh Cục so với Phúc đức có thể ví như một cái máy trợ lực hay một cái thắng đối với phúc. Nếu mệnh thịnh th́ phúc tốt hơn, ngược lại phúc kém đi trở thành xấu.

3. T́m bản mệnh
Giáp Tư, At Sửu: Hải trung kim (vàng đáy biển)
Bính Dần, Đinh Măo: Lô trung Hỏa (lửa trong ḷ)
Mậu Th́n, Kỷ Măo: Đại lâm mộc (cây ở trong rừng)
Canh Ngọ, Tân Mùi: Lộ bàng thổ (đất bên đường)
Nhâm Thân, Quư Dậu: Kiếm phong kim (vàng đầy gươm)
Giáp Tuất, At Hợi: Sơn đầu hỏa (lửa đầu núi)
Bính Tư, Đinh Sửu: Giản hạ thủy (nước khe suối)
Mậu Dần, Kỷ Măo: Thành đầu thổ (đất đầu thành)
Canh Th́n, Tân Tỵ: Bạch lạp kim (đèn nến trắng)
Nhâm Ngọ, Quư Mùi:  Dương liễu mộc (cây dương liều)
Giáp Thân, Ất Dậu: Tuyền trung thủy (nước giữa suối)
Bính Tuất Đinh Hợi : Ốc thượng thổ (đất mái nhà)
Mậu Tư, Kỷ Sửu: Tích lịch hỏa (lửa sấm sét)
Canh Dần, Tân Măo: Ṭng bách mộc (cây ṭng bách)
Nhâm Th́n, Quư Tỵ:  Tràng lưu thủy (nước ḍng sông)
Giáp Ngọ, At Mùi : Sa trung kim (vàng trong cát)
Bính Thân, Đinh Dậu : Sơn hạ hỏa (lửa dưới cát)
Mậu Tuât, Kỷ Hợi: B́nh địa mộc (cây đồng bằng)
Canh Tư, Tân Sửu: Bịch thượng thổ (đất trên vách)
Nhâm Dần, Quư Măo: Kim bạch kim (vàng bạch kim)
Giáp Th́n, Ất Tỵ: Phú đăng hỏa (lửa ngọn đèn lớn)
Bính Ngọ, Đinh Mùi: Thiên thượng thủy (nước trên trời)
Mậu Thân, Kỷ Dậu: Đất trach thổ (đất làm nhà)
Canh Tuất, Tân Hợi: Xuyến thoa kim (vàng trong tay)
Nhâm Tư, Quư Sửu: Tang khô mộc (gỗ cây dâu)
Giáp Dân, Ất Măo: Đại khê thủy (nước suối lớn)
Bính Th́n, Đinh Tỵ: Sa trung thổ (đất giữa cát)
Mậu Ngọ, Kỷ Mùi: Thiên thượng hỏa (lửa trên trời)
Canh Thân, Tân Dậu: Thạch lựu mộc (cây thạch lựu)
Nhâm Tuất, Quư Hợi: Đại hải thuỷ (nước biển lớn)
 

4. Ghi Đại vận - Tiểu vận
a. Đại vận
Kể từ cung Mệnh, ghi mỗi cung một số theo chiều thuận nếu là Dương Nam, Âm Nữ; theo chiều nghịch nếu là Âm Nam, Dương Nữ. Các số là số cục tùy theo cục t́m thấy, tiếp theo mỗi cung là số đó cộng 10, 20, 30……
b. Tiểu vận
- Tuổi Dần, Ngọ, Tuất: ghi hàng Chi của ḿnh ở cung Th́n
- Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu: ----------------------------- Mùi
- Tuổi Thân, Tư, Th́n:----------------------------- Tuất
- Tuổi Hợi, Măo, Mùi:----------------------------- Sửu
Rồi Nam đi thuận, Nữ đi nghịch, lần lượt ghi hàng Chi theo đúng thứ tự, mỗi cung một chữ, ghi ở lề trong của cung. Hết hàng Chi đến Hợi, lại nối tếp bằng Tư.
 

Website có sử dụng tài liệu của các cụ Nguyễn Phát Lộc, Dịch Lư Huyền Cơ,Vũ Tiến Phúc,Vũ Tài Lục...
@ Copyright 2007 by Phuong Dao. Email: dk.phuong@yahoo.com.vn